Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh viêm khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh viêm khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Nghệ vàng

Natural Remedies 18:43 Add Comment
 
Nghệ vàng

 Cây nghệ vàng tại Nghĩa Đàn - Nghệ An

Nghệ vàng là một loại cỏ cao 0,5m đến 1m. Thân rễ thành củ hình trụ hoặc hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng cam sẫm. Lá hình trái xoan thon nhọn ở hai đầu, hai mặt đều nhẵn dài tới 45cm, rộng tới18cm. Cuống lá có bẹ. Cụm hoa mọc từ giữa các lá lên, thành hình nón thưa, lá bắc hữu thụ khum hình máng rộng, đầu tròn màu xanh lục nhạt, lá bắc bất thụ hẹp hơn, màu hơi tím nhạt. Tràng có phiến, cánh hoa ngoài màu xanh lục vàng nhạt, chia thành ba thuỳ, thuỳ trên to hơn, phiến các hoa trong cũng chia ba thùy, 2 thuỳ hai bên đứng và phẳng, thuỳ dưới lõm thành máng sâu. Quả nang 3 ngăn, mở bằng 3 van. Hạt có áo hạt.

Thu hái:

Thu hoạch vào mùa thu. Cắt bỏ hết rễ, thân rễ để riêng. Muốn để được lâu phải đồ, hoặc hấp trong 6 - 12 giờ, sau đó đợi ráo nước, đem phơi nắng hoặc sấy khô.

Phần dùng làm thuốc:

Thân rễ gọi là Khương hoàng (Rhizoma Curcumae Longae);
Rễ gọi là Uất kim (Radix Curcmae Longae).

Mô tả dược liệu:

Củ nghệ vàng còn được gọi là Hoàng Uất kim: Hình thoi, hai đầu hơi nhọn, ở giữa mập, dài 1-3,3cm, đường kính ở giữa 0,2-0,5cm. Mặt ngoài mầu vàng tro hoặc nâu nhạt, có vằn nhăn nhỏ mầu trắng tro và những chấm nhỏ lõm xuống rất rõ. Một đầu có vết bị bẻ gẫy, mầu vàng tươi, còn đầu kia hơi nhọn. Chất cứng chắc, mặt gẫy ngang phẳng, bóng, sáng, chất cứng như sừng, mầu vàng chanh hoặc vàng da cam. Giữa có một đốm tròn mầu nhạt, hơi có mùi thơm của Gừng, vị cay, đắng (Dược Tài Học).

Bào chế:

Ngâm nước, rửa sạch, vớt ra phơi, khi ẩm thì cắt ra từng miếng để dùng dần.

Bảo quản:

Để nơi khô ráo, tránh sâu mọt.

Thành phần hóa học:

+ Curcumin, Demothoxycurcumin, Bisdemothoxy curcumin (Lý Tuấn Phu, Trung Y Dược học Báo 1987,  (2): 39).

+ Tumerone, Ar-Tumerone, Germacrone, Terpinene, Curcumene, Ar-Curcumene,  Curdione, Curcumol, Turmerone, Cineol, Caryophyllene, Limonene, Linalool, a-Piene, b-Piene, Camphene, Isoborneol (Giả Khoan, Trung Quốc Miễn Dịch Học Tạp Chí, 1989, 5 (2): 121).

+ d-Camphene, d-Camphor, l-a-Curcumene, l-b- Curcumene, Curcumin, Demothoxycurcumin, Bisdemothoxy curcumin, Tumerone, Ar-Tumerone, Carvone, p-Tolylmethylcarbioldifferuloylmethane (Trung Dược Học).

Tính vị:

+ Vị cay, đắng, tính hàn, không độc (Tân Tu Bản Thảo).

+ Vị cay, đắng, tính hàn, không độc (Bản Kinh Phùng Nguyên).

+ Vị đắng, tính hàn, (Trung Dược Học).

Công dụng:

1. Điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả 

Viêm loét dạ dày là bệnh dai dẳng, âm ỉ gây đau đớn, khó chịu cho người bệnh. Người bệnh thường bị suy nhược cơ thể do ăn uống kiêng khem hoặc không ăn được do đau. Từ xưa đến nay, tinh chất nghệ vàng đã được biết đến là vị thuốc điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả.

2. Củ nghệ giúp liền sẹo: sau khi lấy còi mụn, dùng củ nghệ tươi để xát lên, củ nghệ tươi giúp khử khuẩn và giúp liền sẹo nhanh chóng.

3. Củ nghệ giúp kéo dài tuổi thọ với bột nghệ vàng:

Curcumin - bột nghệ - tinh bột nghệ hoạt chất chính chiết xuất từ củ nghệ vàng có thể kéo dài tuổi thọ con người bởi nó chứa đầy đủ các chất chống oxy hóa và những chất khác tốt cho sức khỏe con người.

4. Củ  nghệ  hỗ  trợ  điều  trị ung thư Tinh nghệ Curcumin, hoạt chất hủy diệt tế bào ung thư vào loại mạnh. Nhiều công trình nghiên cứu thử nghiệm ở các nước trên thế giới đã khẳng định từ lâu rằng hoạt chất Curcumin có tác dụng huỷ diệt tế bào ung thư vào loại mạnh. Tại Mỹ, Đài Loan, người ta đã tiến hành thử lâm sàng dùng Curcumin điều trị ung thư và kết luận: Curcumin có thể kìm hãm sự phát tác của tế bào ung thư da, dạ dày, ruột, vòm họng, dạ con, bàng quang.

Một nghiên cứu của Pháp vừa chứng minh rằng củ nghệ có tác dụng hủy các tế bào ung thư ở loài chuột và khi được kết hợp với liệu pháp miễn dịch nó sẽ tăng 82,8% thời gian sống còn của loài chuột bị khối u ác tính.

Tiến sĩ Johann Odot và các cộng sự ở trường Đại học Reims đã nghiên cứu những tác động của củ nghệ trong ống nghiệm đối với các tế bào ung thư của loài chuột (bị khối u ác tính) kháng lại thuốc doxorubicin chống ung thư. Họ cũng đã quan sát tác động của củ nghệ trong cơ thể sống ở loài chuột bị khối u ác tính bằng cách cho chúng tiêu thụ củ nghệ riêng hoặc kết hợp với một chất pha chế có chứa những protein hòa tan tế bào ung thư hoặc chất pha chế riêng.

Khi ở trong ống nghiệm trên các tế bào cấy, nghệ có tác dụng diệt các tế bào ung thư. Ở loài chuột bệnh, củ nghệ được tiêu thụ riêng hoặc chất pha chế riêng không có tác động rõ rệt đối với sự phát triển của khối u và cũng không làm tăng thời gian sống còn của loài chuột được bao nhiêu. Ngược lại việc kết hợp của hai liệu pháp đã mang lại những kết quả khả quan: khối u bị ức chế rõ rệt và thời gian sống còn của loài chuột đã tăng 82,8%.

Theo các nhà khoa học, những nghiên cứu về tác động hủy tế bào ung thư và khối u của củ nghệ sẽ giúp họ tìm ra những phương pháp hiệu quả để điều trị khối u ác tính và nhiều căn bệnh ung thư khác.
 (Theo Journal Santé)

5.  Khi gặp rắc rối với tiêu hóa: Nghiên cứu cho thấy, nghệ có thể kích thích tiêu hóa và giải phóng ra các emzim tiêu hóa, phá vỡ liên kết cacbonhydrat và các chất béo. Chính vì thế, trong trường hợp bị đau bụng, một cốc trà nghệ sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều.

6. Tinh chất nghệ Curcumin chữa viêm khớp hiệu quả an toàn

Sau những nghiên cứu chiết tách thành công Tinh nghệ Curcumin từ nghệ tại Việt Nam, một lần nữa, các hoạt chất có lợi trong củ nghệ vàng lại được quan tâm và ứng dụng trong việc sản xuất ra các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có lợi cho cộng đồng.

7. Mặt nạ bột nghệ cho da khô
Bạn nên đắp mặt nạ cho da khô trước khi bạn đi ngủ hoặc vào buổi tối. Thành phần: Bột nghệ nguyên chất, sữa tươi, dầu hạnh nhân, bột yến mạch, nước hoa hồng...

8. Nghệ giúp giảm cân, lưu thông và lọc máu.

 
-Sưu tầm-


7 lợi ích khi uống sữa kèm bột nghệ

Natural Remedies 12:52 Add Comment
Ly sua nghe

Ly sữa nghệ thơm ngon

Thay vì chocolate hay ca cao, bạn hãy thêm một thìa tinh bột nghệ hay vài lát nghệ tươi vào ly sữa ấm mỗi ngày để cảm nhận những lợi ích bất ngờ sau đây.

1. Trị cảm lạnh và ho

Theo Indiatimes, nghệ là loại củ có tính sát trùng và chống viêm nhiễm hiệu quả. Khi bạn đang phải chiến đấu với những cơn ho và cảm lạnh, hãy uống một cốc sữa ấm pha kèm nửa thìa tinh bột nghệ hoặc đun nóng với vài lát nghệ tươi.
Món sữa - nghệ sẽ đẩy lùi cơn ho và giảm viêm họng tức thì.

2. Thanh lọc và giải độc

Người ta sử dụng nghệ như một phương thuốc để lọc máu từ nhiều thế kỷ nay. Nghệ giúp cải thiện lưu thông máu, kích hoạt mạch bạch huyết - cơ chế thoát nước tự nhiên của cơ thể.

Ngoài ra, nó giúp gan hoạt động tốt hơn, đẩy chất độc hại trong cơ thể ra ngoài.

3. Chữa viêm khớp

Đặc tính chống viêm của nghệ giúp làm dịu cơn đau, sưng do viêm khớp. Uống sữa ấm pha bột nghệ hàng ngày giúp tăng cường sức mạnh xương khớp và cải thiện tính linh hoạt cho các khớp xương của bạn.

4. Giảm đau đầu và nghẽn mạch máu

Nghệ rất giàu chất chống oxy hóa và nhiều chất dinh dưỡng khác, nó hoạt động như một chất giảm đau tự nhiên, chống lại bệnh đau đầu và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nghẽn mạch máu não…

5. Tăng khả năng miễn dịch

Đặc tính kháng virus của nghệ bảo vệ cơ thể bạn trước nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng như viêm gan, làm chậm sự phát triển của bệnh Alzheimer.

Thậm chí, nhiều bằng chứng khoa học cho thấy, sử dụng nghệ thường xuyên có thể giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư.

6. Giúp ngủ ngon

Một ly sữa ấm sẽ giúp bạn có giấc ngủ yên bình hơn. Sữa chưa serotonin, melatonin - là những dưỡng chất quan trọng đối với não bộ. Tinh chất nghệ giúp giảm căng thẳng và thư giãn cơ thể, giúp bạn ngủ sâu sau một ngày bận rộn.

7. Giảm đau bụng kinh

Uống sữa ấm và nghệ trong những ngày đèn đỏ có thể giúp nữ giới giảm những cơn đau bụng kinh. Tinh chất của nghệ giúp chống co thắt tử cung và sữa ấm làm cơn đau của bạn dịu hơn.

Theo zing.vn
 
 P/s: bạn uống Tinh bột nghệ có hiệu quả hơn bởi hàm lượng curcumin cao, ít nóng.

Sữa và những bất cập

Natural Remedies 09:07 Add Comment
Bài này tôi copy lại từ blog Bác sĩ Hồ Hải để các bạn cùng đọc.
Nội dung bài viết của BS. Hồ Hải như sau: 



Hầu như ai, từ thầy thuốc đến người mẹ đều biết sữa là quan trọng, nhưng cũng chưa có ai hiểu sữa là gì? Bài này tôi viết nhằm để cho cộng đồng hiểu sữa là gì? Có bao nhiêu loại sữa? Sữa có giới hạn của nó ở đâu? nhằm cho cộng đồng không bị mê hoặc bỡi những quảng cáo quá sự thật, mà truyền thông của xã hội gần đây đi sai vai trò của nó vì lợi nhuận.
Gần đây trên thị trường sữa Việt Nam có vấn đề bất cập về giá sữa, khi cuộc sống công nghiệp bắt đầu du nhập vào, và do bùng nổ dân số gây ra nhu cầu sữa một cách quá đáng, vì thiếu hiểu biết. Nên bộ tài chính buộc phải áp trần giá sữa nhằm cho người dân đỡ bị gian thương móc túi.
Nhưng sau áp trần gía sữa, thì thị trường sữa đồng loạt đổi tên là thực phẩm dinh dưỡng bổ sung, để lách luật gây giá ảo móc túi người dân.
Sau khi bộ tài chính áp trần giá sữa, thì tất cả các công ty sữa trong và ngoài nước sửa lại nhãn bao bì là Sản phẩm dinh dưỡng công thức, nhằm tạo bão giá lách luật.
Định nghĩa

Trước tiên muốn dùng sữa đúng thì phải hiểu sữa là gì? Cũng giống như tất cả các khái niệm khác, định nghĩa rất quan trọng.

Sữa là một chất lỏng màu trắng đục được sản xuất bởi các tuyến vú của động vật có vú. Nó là nguồn gốc chính của dinh dưỡng và cả kháng thể chống lại bệnh tật cho động vật có vú ở giai đoạn mới sinh ra, trước khi chúng có thể tiêu hóa các loại thực phẩm mà thiên nhiên và xã hội tạo ra.

Tiêu chuẩn đạm là tiêu chuẩn bắt buộc và phải có của sữa là phải có 34% đạm trong sữa. Tất cả các loại gọi là sữa, mà thành phần đạm dưới 34% tổng trọng thì không phải là sữa, mà chỉ là thực phẩm bổ sung. Các tiêu chuẩn này sữa mẹ của loài động vật có vú chỉ đáp ứng được trong 6 tháng đầu hậu sản. Sau 6 tháng hậu sản sữa mẹ của động vật có vú không còn đáp ứng được, vì lượng kháng thể chống lại bệnh tật, cũng như hàm lượng khác - trong đó có đạm - giảm dần.

Tiêu chuẩn đạm trong sữa theo Tổ chức y tế thế giới phải đạt 34%.

Đặc điểm

Từ đó ta thấy sữa đúng định nghĩa có 3 đặc điểm quan trọng sau đây:

1. Là chất dinh dưỡng thiết yếu, có đầy đủ thành phần cho động vật có vú sơ sinh sống.

2. Là chất chống lại bệnh tật cho động vật có vú trong thời kỳ sơ sinh.

3. Là chất để cơ thể của động vật có vú trong thời kỳ sơ sinh dùng để xây dựng và phát triển hoàn thiện.

Phân loại

Từ định nghĩa gốc này cho chúng ta thấy các vấn đề sau:

Phân loại sữa thì có 2 loại: 

1. Sữa mẹ cho mỗi loài động vật riêng lẻ như, sữa người, sữa vượn, sữa khỉ, sữa cá voi, sữa bò, etc.

2. Sữa động vật nhân tạo như sữa bò, sữa dê, sữa thực vật, etc dùng để cho người dùng, hoặc cho động vật cần săn sóc.

Tạo hóa rất khoa học, và tinh vi là, sữa mẹ chỉ có giá trị trong 6 tháng đầu tiên sau sinh là đầy đủ mọi tính chất, đặc điểm của sữa, và 6 tháng cũng là thời gian mà, động vật có vú sau sinh cũng đã hoàn thiện cả bộ nhai để bắt đầu cho cuộc tự dưỡng và dị dưỡng của mình. 

Sữa có vai trò chống loảng xương không?

Câu trả lời là CÓ và KHÔNG!

Tại sao có? Vì trong sữa có hàm lượng calcium cao. Calcium là thành phần chính để tạo xương ở tuổi trưởng thành và phát triển cơ thể. Và sữa chỉ có giá trị cho xương khi Calcium trong sữa được chuyên chở đến xương nhờ vào hormone sinh dục, và ở tuổi còn vận động nhiều.

Tại sao không? Vì để Calcium đi đến đúng nơi cần Calcium tạo xương thì cần phải có 2 điều kiện: các loại hormones như sinh dục, giáp và cận giáp như là những chiếc xe chở đến đúng nơi cần Calcium, và vận động là yếu tố xúc tác cho quá trình xây dựng xương chắt và chịu lực.

Như tôi đã viết gần đây, 35 tuổi là tuổi của sự bắt đầu tiến trình lão hóa diễn ra của con người. Có nghĩa là, quá trình chết diễn ra mạnh hơn quá trình sống. Và loảng xương cũng bắt đầu diễn ra, nhưng quá trình loảng xương diễn ra mạnh mẽ nhất bắt đầu từ lúc phụ nữ bặt kinh, và đàn ông không còn ham muốn tình dục.

Gần đây có loại sữa được báo chí, đài truyền hình, truyền thanh bảo rằng sữa chống loảng xương cho người cao tuổi là sai. Vì người cao tuổi cơ quan sinh dục đã giảm, hoặc ngừng hoạt động sinh đẻ ở nữ, và đòi hỏi tình dục ở nam, nên không còn đủ hormone sinh dục, giáp, cận giáp để đưa Calcium và nơi cần để tạo xương. Người già chỉ còn cách là vận động như, đi bơi, tập nhẹ kiên trì để chống quá trình loảng xương do lão hóa gây ra.

Uống sữa lúc nào?

Dĩ nhiên về mặt sinh lý hấp thu phải hợp với lẽ tự nhiên là trẻ sơ sinh chỉ uống sữa lúc đói. Đối với người lớn cũng vậy, phải uống sữa lúc đói mới có tác dụng tốt cho cơ thể. Vì trong sữa có Calcium và chất bổ dưỡng chỉ được hấp thu tốt lúc đói, mà không bị kết tủa và bị thải theo phân, khi có các hợp chất gây phản ứng kết tủa vì thức ăn khác trong ống tiêu hóa.

Nhưng có nhiều bà mẹ ông bố, sau khi con mình đã được ăn no nê buổi cơm chiều, thì tối đến lại cho con mình nốc thêm 1 ly sữa to, vì thế mà bé trở nên béo phì. Sữa phải được uống trước khi ăn ít nhất 1 giờ đồng hồ khi bụng đói mới hợp sinh lý của cơ thể.

Sữa trên thị trường có phải là sữa không?

Rõ ràng theo tiêu chuẩn và định nghĩa sữa thì không có bất kỳ loại sữa nào được quảng cáo, và bán trên thị trường toàn cầu được gọi là sữa, mà phải gọi là thực phẩm bổ sung - Supplementary Food. Nhưng khi về đến Việt Nam cái từ Supplementary Food được các nhà kinh doanh dịch ra thành, Thực Phẩm Chức Năng, để biến nó từ thực phẩm bổ sung cũng giống như tôm, cá, rau, củ, quả mà chúng ta vẫn ăn hằng ngày thành "thuốc", nên chúng có giá đắt hơn thuốc!

Sữa hiện nay trên thị trường Việt Nam chỉ có nồng độ đạm chưa bằng 50% nồng độ đạm mà Tổ chức Y tế Thế giới quy định!

Ăn uống là thuốc để xây dựng và phát triển cơ thể sống. Nhưng ăn uống sai là thuốc độc để cơ thể mau bệnh tật, và dẫn đến tử vong.

Kết

Bộ y tế cần những con người có kiến thức y học chuẩn mực, và hàn lâm. Các bộ ngành khác của chính phủ Việt Nam cần có những con người có kiến thức hàn lâm, có tâm, và có tầm với Tổ quốc và Dân tộc, cùng hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ với nhau, thì mới mong đem lại những hiểu biết đơn giản cho người dân, nhằm dân không bị thiệt, mà nền kinh tế không bị chảy ngân sách ra nước ngoài thì văn hóa chuộng hàng ngoại của dân Việt bấy lâu nay.
Asia Clinic, 12h24' ngày thứ Năm, 14/8/2014

LOÃNG XƯƠNG: PHẦN III: PHÒNG NGỪA LOÃNG XƯƠNG

Natural Remedies 04:11 Add Comment
Bài viết của BS.ThS Hàn Tiểu Sảo

Bảo vệ sức khỏe xương của bạn dễ dàng hơn bạn nghĩ

Chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và lối sống có thể ảnh hưởng đến khối lượng xương. Để duy trì sức mạnh và mật độ xương, cơ thể đòi hỏi được cung cấp đủ calcium, khoáng chất, vitamin D, lượng thích hợp của một số hormone:

• Hormone tăng trưởng GH (growth hormon) do tuyến yên tiết ra: không có tác dụng trực tiếp lên hủy và tạo xương, nhưng nó có thể kích thích sự tổng hợp IGF1 (insulin like growth factor 1) của tế bào xương.

• Calcitonin do các tế bào cận nang giáp tiết ra làm giảm hoạt động của các tế bào hủy xương, ức chế quá trình hủy xương.

• Hormone tuyến cận giáp: dưới tác dụng của PTH thì bao giờ quá trình hủy xương cũng diễn ra mạnh hơn tạo xương.

• Estrogen được tạo ra bởi buồng trứng: có tác dụng ức chế hủy xương gián tiếp thông qua các hormon khác hoặc thông qua tác động của các yếu tố tăng trưởng tại chỗ.

• Testosterone được bài tiết chủ yếu từ tinh hoàn một lượng nhỏ từ tuyến thượng thận. Giảm testosteron hay sự thiếu hụt estradiol cũng góp phần vào sự loãng xương ở nam giới.

Với hoạt động và liều lượng tối ưu của các hormon, vitamin, và khoáng chất, bè xương phát triển thành một cấu trúc mạng phức tạp tuy trọng lượng nhẹ nhưng mạnh mẽ.

Đo loãng xương

Chỉ định đo mật độ xương (Bone Mineral Density test: BMD test) hàng năm cho phụ nữ ≥ 65 tuổi , hoặc nữ kèm các vấn đề sau:

1. Quá trọng.
2. Hút thuốc lá.
3. Giảm chiều cao, lưng khom, còng.
4. Đau lưng đột ngột không nguyên nhân rõ ràng.
5. > 45 tuổi và gãy 1 xương.
6. Bệnh mạn tính.
7. Trước và sau khi điều trị K vú.

Nếu như không có chỉ định điều trị sau khi đo mật độ xương thì chỉ cần đo lặp lại sau 2-3 năm, thậm chí 4 năm. Để phát hiện thay đổi mật độ xương 2-3% cần phải 1-1,5 năm nếu như sai số đó là 1%, và 5 năm nếu sai số của máy là 5%. Khi đo lại, cần đo ở cùng một máy trên cùng một vị trí.

Trong trường hợp điều trị, có thể đo lặp lại ở cột sống thắt lưng vì tác dụng của thuốc ở vị trí này khá rõ rệt.

Trường hợp không có điều kiện đo mật độ xương: Có thể chẩn đoán xác định loãng xương khi đã có biến chứng gãy xương dựa vào triệu chứng lâm sàng và Xquang: Đau xương, đau lưng, gẫy xương sau chấn thương nhẹ, tuổi cao… 

Vài bước đơn giản để ngăn ngừa hoặc làm chậm mất xương

1/ Bao gồm nhiều calcium trong chế độ ăn uống. Đối với người lớn, tuổi từ 19-50 và nam giới độ tuổi từ 51-70, nhu cầu calcium là 1g/ngày. Các khuyến nghị tăng tới 1.2g một ngày cho phụ nữ sau 50 tuổi và nam giới sau tuổi 70. Nguồn cung cấp calcium bao gồm cua đồng, ốc nhồi, vừng, tôm khô, pho mát và các sản phẩm từ sữa, hạnh nhân, bông cải xanh, cải xoăn, cá hồi đóng hộp với xương, cá mòi và các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ.

1/ Cơ thể cần vitamin D để hấp thụ calcium. Ở tuối 19-70, nhu cầu Vitamin D là 600 IU/ngày. Kiến nghị tăng đến 800 IU/ngày cho người ≥ 71 tuổi. Nguồn cung cấp vitamin D bao gồm dầu cá, như cá ngừ và cá mòi, lòng đỏ trứng và sữa tăng cường. Ánh sáng mặt trời cũng góp phần vào việc sản xuất vitamin D của cơ thể.

3/ Hoạt động thể chất: Bài tập chịu tải trọng, chẳng hạn như đi bộ, chạy bộ, tennis và leo cầu thang, có thể giúp bạn xây dựng xương và chậm mất xương. Tránh lạm dụng thuốc, không hút thuốc lá và tránh uống nhiều hơn hai ly rượu mỗi ngày.
Mè chữa loảng xương
 Mè chứa nhiều calcium

LOÃNG XƯƠNG: PHẦN II: LOÃNG XƯƠNG

Natural Remedies 03:59 Add Comment
Định nghĩa 
Loãng xương  là sự rối loạn chuyển hoá của bộ xương gây tổn thương sức mạnh của xương đưa đến tăng nguy cơ gãy xương, là hậu quả của việc suy giảm các khung protein và lượng calcium gắn với các khung này, do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng lượng của một đơn vị thể tích.
Sức mạnh của xương bao gồm sự toàn vẹn cả về khối lượng và chất lượng của xương.
Khối lượng xương được biểu hiện bằng: 
• Mật đô khoáng chất của xương (Bone Mineral Density: BMD). 
• Khối lượng xương (Bone Mass Content: BMC). 
Chất lượng xương phụ thuộc vào: 
• Thể tích xương. 
• Vi cấu trúc của xương (thành phần chất nền và chất khoáng của xương).
• Chu chuyển xương (tình trạng tổn thương vi cấu trúc xương, tình hình sửa chữa cấu trúc của xương).

Phân loại 
  • Loãng xương type 1 là loãng xương sau mãn kinh, liên quan với giảm nồng độ estrogen và tác động trên bè xương hơn là vỏ xương. 
  • Loãng xương type 2 là  loãng xương do tuổi già, là hậu quả của sự lão hóa và thường được tăng cường bởi tình trạng thiếu cancium và vitamin D,  ảnh hưởng đến cả vỏ xương và bè xương. 
  • Loãng xương thứ phát liên quan đến một số bệnh hoặc việc sử dụng một số loại thuốc. 

Nguyên nhân 

1/ Chế độ ăn ít cancium và/hoặc vitamin D góp phần giảm sút mật độ xương, mất xương sớm và gia tăng nguy cơ gãy xương. Do cancium trong thức ăn không đủ để duy trì nồng độ calcium cần thiết trong máu, khi đó tế bào chính của tuyến cận giáp tiết ra Parathyroidhormon (PTH) để điều cancium trong xương chuyển ra bổ sung cho máu nhằm duy trì sự ổn định nồng độ calcium trong máu. Tình trạng này kéo dài làm cho kết cấu xương bị thưa loãng. Việc sản xuất PTH của tuyến cận giáp được điều khiển bởi tuyến yên và cơ chế phản hồi từ nồng độ cancium trong máu. 

2/ Hoạt động thể chất: những người không hoạt động thể chất có nguy cơ loãng xương hơn.

3/ Thuốc lá và rượu: thuốc lá góp phần làm yếu xương, nhiều hơn hai ly rượu mỗi ngày làm tăng nguy cơ loãng xương (do rượu cản trở khả năng của cơ thể hấp thụ cancium).

4/ Giới tính, kích thước và độ tuổi: 
  • Nguy cơ loãng xương nếu là phụ nữ, vì phụ nữ có mô xương ít hơn so với nam giới. 
  • Nếu cơ thể rất gầy (BMI ≤ 19) hoặc có khung cơ thể nhỏ: Kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, đặc biệt là còi xương, suy dinh dưỡng, chế độ ăn thiếu protein, thiếu cancium hoặc tỷ lệ cancium/phospho trong chế độ ăn không hợp lý, thiếu vitamin D hoặc cơ thể không hấp thu được vitamin D... nên khối lượng khoáng chất đỉnh của xương ở tuổi trưởng thành thấp, đây được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh loãng xương. 
  • Xương trở nên mỏng hơn và yếu hơn khi già đi. Đặc điểm của loãng xương tuổi già là tăng quá trình huỷ xương giảm quá trình tạo xương, gặp ở cả nam và nữ vì các nguyên nhân:
              - Các Osteoblast bị lão hoá. Hoạt động của nguyên bào xương giảm khi lớn tuổi.
              - Sự hấp thu calcium ở ruột bị  hạn chế do chức năng dạ dày, đường ruột, gan, thận suy yếu…
                Ít hoạt động ngoài trời, thiếu ánh nắng, thiếu vitamin D.
              - Sự suy giảm tất yếu các hormon sinh dục (nữ và nam).

5/ Chủng tộc và lịch sử gia đình: Người da trắng hoặc người gốc Á Châu có nguy cơ loãng xương hơn các chủng tộc khác. Ngoài ra, có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị loãng xương thì có nguy cơ cao hơn - đặc biệt là lịch sử gia đình có người bị gãy xương.

6/ Mức độ hormone: 
  • Quá nhiều hormon tuyến giáp có thể gây mất xương do tăng bài tiết cancium và phốt pho trong nước tiểu và phân. 
  • Ở phụ nữ, mất xương tăng đáng kể ở thời kỳ mãn kinh do giảm nồng độ estrogen làm tăng nhanh tốc độ quá trình chuyển cancium từ xương vào máu (Tăng quá trình huỷ xương trong khi quá trình tạo xương bình thường). Thiếu hụt Estrogen là yếu tố chính dẫn đến giai đoạn nhanh chóng mất xương, nhưng các yếu tố khác như giảm mức độ IGF-1 và PTH cao góp phần vào giai đoạn mất xương chậm sau mãn kinh. Loãng xương sau mãn kinh làm nặng hơn tình trạng loãng xương do tuổi ở phụ nữ. Mất xương cột sống thường là 3%/năm trong khoảng 5 năm đầu sau khi mãn kinh. Sau đó, tốc độ chậm hơn (khoảng 0,5%/năm), ảnh hưởng đến cả vỏ xương và bè xương. 
  • Ở nam giới, nồng độ testosterone thấp có thể gây ra mất khối lượng xương. Những thay đổi trong mức độ IGF-1 và PTH cùng với sự suy giảm estrogen sinh học cũng đóng một vai trò trong việc mất xương ở nam giới. 
7/ Ăn quá nhiều protein, natri, và caffeine. Những người bị chứng biếng ăn hoặc ăn vô độ có nguy cơ mất xương. Dinh dưỡng thiếu làm thiếu các yếu tố vi lượng như calcium, phospho, magne, albumin, acid amin góp phần gây loãng xương. 

8/ Nhiều bệnh gây nguy cơ loãng xương bao gồm: cường cận giáp, tiểu đường type 1, suy thượng thận, hội chứng Cushing, chán ăn tâm thần, hội chứng kém hấp thu, và một số bệnh ác tính. Cơ chế góp phần vào sự mất xương là khác biệt cho từng bệnh. Nhiều loại thuốc cũng có tác dụng bất lợi trên xương. Sử dụng kéo dài của glucocorticoid là nguyên nhân phổ biến nhất của loãng xương do thuốc. Các loại thuốc khác bao gồm heparin, thuốc ức chế aromatase, barbiturates, các thuốc đồng vận hormon gonadotropin-releasing, cyclosporine, tacrolimus, depot medroxyprogesterone, lithium, hóa trị liệu ung thư, thuốc chống co giật.

Triệu chứng

Loãng xương là bệnh diễn biến âm thầm không có triệu chứng lâm sàng đặc trưng, chỉ biểu hiện khi đã có biến chứng. Những biểu hiện lâm sàng chỉ xuất hiện khi trọng lượng xương giảm > 30%. Sự xuất hiện từ từ tự nhiên hoặc sau một chấn thương, đôi khi tình cờ chụp X quang mà thấy.

• Đau và hạn chế vận động cột sống, cánh chậu, bả vai.

• Tái phát từng đợt, thường sau khi vận động nhiều, chấn thương nhẹ, thay đổi thời tiết.

• Cột sống giảm dần chiều cao, biến dạng đường cong sinh lý dẫn đến gù vùng lưng hay thắt lưng, chiều cao cơ thể giảm đi rõ rệt so với khi còn trẻ tuổi. Xương dễ gãy, đôi khi chỉ một chấn thương nhẹ cũng làm gãy cổ xương đùi, gãy đầu dưới xương quay, gãy lún đốt sống.

Hai phần ba gãy xương cột sống do loãng xương không đau. Nếu có, cơn đau cấp tính sau ngã hoặc chấn thương nhẹ, đau nhói hay ê ẩm. Điểm đau rõ ở cột sống, đau khi ấn, một số trường hợp đau lan tới vùng bụng. Đau thường kèm theo co thắt cơ quanh đốt sống, cử động làm tăng đau, giảm khi nằm ngửa. Cơn đau cấp thường tự khỏi sau 4-6 tuần; trong bối cảnh nhiều xương gãy với gù cột sống nặng, cơn đau có thể trở thành mãn tính.

Triệu chứng đau của  gãy xương hông: Đau ở háng, mông, trước đùi, giữa đùi, và /hoặc giữa đầu gối do mang nặng, hạn chế cử động háng.

Chẩn đoán 
Chẩn đoán loãng xương khi mật độ xương theo chỉ số T-score được đo bằng phương pháp DEXA ≤ - 2,5 

(theo Tổ chức Y tế thế giới).
+ Xương bình thường:                              T score  ≥ – 1  SD
+ Thiếu xương (Osteopenia):  – 2,5SD < T score  < – 1   SD
+ Loãng xương (Osteoporosis):               T score  ≤ - 2,5 SD
+ Loãng xương nặng:                           T score  ≤ - 2,5 SD kèm tiền sử/ hiện tại có gãy xương
Đo mật độ xương (BMD test) tại cổ xương đùi và cột sống thắt lưng theo phương pháp DEXA

T-Score = (BMD – mBMD) / SD    Trong đó: 
  • BMD: mật độ xương của đối tượng khảo sát.
  • mBMD: mật độ xương trung bình (cũng là BMD max) của quần thể dân số tuổi từ 20-30.
  • SD: độ lệch chuẩn của BMD trung bình của quần thể dân số trên.
Đo BMD cổ xương đùi của phụ nữ VN tuổi 20-30 bằng phương pháp DEXA: 
mBMD= 0.94 g/cm2, SD=0.11 g/cm2
Ví dụ: một phụ nữ 60 tuổi, có BMD tại cổ xương đùi là 0.65 g/cm2 
Như vậy: T-Score của bà ta là: (0.65-0.94)/ 0.11 = -2.63
Có nghĩa là BMD phụ nữ này thấp hơn BMD lúc 20-30 tuổi là 2.63 lần SD.
T-Score có ý nghĩa so sánh BMD hiện tại với BMD tối đa.

Z-Score = (BMD- tBMD)/ SD      Trong đó:
  • BMD: mật độ xương của đối tương khảo sát.
  • tBMD: BMD trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng.
  • SD: độ lệch chuẩn.
Đo BMD cổ xương đùi của quần thể dân số nữ 65 tuổi bằng phương pháp DEXA: 
 tBMD = 0.81g/cm2  , SD=0.11g/cm2
Ví dụ: một phụ nữ A  65 tuổi có BMD cổ xương đùi là 0.86 g/cm2  
Như vậy: Z-Score của bà ta là: (0.86 - 0.81)/ 0.11= +0.45
Có nghĩa là BMD của bà A cao hơn BMD của các phụ nữ khác có cùng độ tuổi là 0.45 lần SD.
Z-Score có ý nghĩa so sánh BMD của đối tượng với BMD của những người cùng tuổi trong một quần thể.

 Còn tiếp, phần 3 Phần 1