Hiển thị các bài đăng có nhãn Thoái hóa khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thoái hóa khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Nghệ vàng

Natural Remedies 18:43 Add Comment
 
Nghệ vàng

 Cây nghệ vàng tại Nghĩa Đàn - Nghệ An

Nghệ vàng là một loại cỏ cao 0,5m đến 1m. Thân rễ thành củ hình trụ hoặc hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng cam sẫm. Lá hình trái xoan thon nhọn ở hai đầu, hai mặt đều nhẵn dài tới 45cm, rộng tới18cm. Cuống lá có bẹ. Cụm hoa mọc từ giữa các lá lên, thành hình nón thưa, lá bắc hữu thụ khum hình máng rộng, đầu tròn màu xanh lục nhạt, lá bắc bất thụ hẹp hơn, màu hơi tím nhạt. Tràng có phiến, cánh hoa ngoài màu xanh lục vàng nhạt, chia thành ba thuỳ, thuỳ trên to hơn, phiến các hoa trong cũng chia ba thùy, 2 thuỳ hai bên đứng và phẳng, thuỳ dưới lõm thành máng sâu. Quả nang 3 ngăn, mở bằng 3 van. Hạt có áo hạt.

Thu hái:

Thu hoạch vào mùa thu. Cắt bỏ hết rễ, thân rễ để riêng. Muốn để được lâu phải đồ, hoặc hấp trong 6 - 12 giờ, sau đó đợi ráo nước, đem phơi nắng hoặc sấy khô.

Phần dùng làm thuốc:

Thân rễ gọi là Khương hoàng (Rhizoma Curcumae Longae);
Rễ gọi là Uất kim (Radix Curcmae Longae).

Mô tả dược liệu:

Củ nghệ vàng còn được gọi là Hoàng Uất kim: Hình thoi, hai đầu hơi nhọn, ở giữa mập, dài 1-3,3cm, đường kính ở giữa 0,2-0,5cm. Mặt ngoài mầu vàng tro hoặc nâu nhạt, có vằn nhăn nhỏ mầu trắng tro và những chấm nhỏ lõm xuống rất rõ. Một đầu có vết bị bẻ gẫy, mầu vàng tươi, còn đầu kia hơi nhọn. Chất cứng chắc, mặt gẫy ngang phẳng, bóng, sáng, chất cứng như sừng, mầu vàng chanh hoặc vàng da cam. Giữa có một đốm tròn mầu nhạt, hơi có mùi thơm của Gừng, vị cay, đắng (Dược Tài Học).

Bào chế:

Ngâm nước, rửa sạch, vớt ra phơi, khi ẩm thì cắt ra từng miếng để dùng dần.

Bảo quản:

Để nơi khô ráo, tránh sâu mọt.

Thành phần hóa học:

+ Curcumin, Demothoxycurcumin, Bisdemothoxy curcumin (Lý Tuấn Phu, Trung Y Dược học Báo 1987,  (2): 39).

+ Tumerone, Ar-Tumerone, Germacrone, Terpinene, Curcumene, Ar-Curcumene,  Curdione, Curcumol, Turmerone, Cineol, Caryophyllene, Limonene, Linalool, a-Piene, b-Piene, Camphene, Isoborneol (Giả Khoan, Trung Quốc Miễn Dịch Học Tạp Chí, 1989, 5 (2): 121).

+ d-Camphene, d-Camphor, l-a-Curcumene, l-b- Curcumene, Curcumin, Demothoxycurcumin, Bisdemothoxy curcumin, Tumerone, Ar-Tumerone, Carvone, p-Tolylmethylcarbioldifferuloylmethane (Trung Dược Học).

Tính vị:

+ Vị cay, đắng, tính hàn, không độc (Tân Tu Bản Thảo).

+ Vị cay, đắng, tính hàn, không độc (Bản Kinh Phùng Nguyên).

+ Vị đắng, tính hàn, (Trung Dược Học).

Công dụng:

1. Điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả 

Viêm loét dạ dày là bệnh dai dẳng, âm ỉ gây đau đớn, khó chịu cho người bệnh. Người bệnh thường bị suy nhược cơ thể do ăn uống kiêng khem hoặc không ăn được do đau. Từ xưa đến nay, tinh chất nghệ vàng đã được biết đến là vị thuốc điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả.

2. Củ nghệ giúp liền sẹo: sau khi lấy còi mụn, dùng củ nghệ tươi để xát lên, củ nghệ tươi giúp khử khuẩn và giúp liền sẹo nhanh chóng.

3. Củ nghệ giúp kéo dài tuổi thọ với bột nghệ vàng:

Curcumin - bột nghệ - tinh bột nghệ hoạt chất chính chiết xuất từ củ nghệ vàng có thể kéo dài tuổi thọ con người bởi nó chứa đầy đủ các chất chống oxy hóa và những chất khác tốt cho sức khỏe con người.

4. Củ  nghệ  hỗ  trợ  điều  trị ung thư Tinh nghệ Curcumin, hoạt chất hủy diệt tế bào ung thư vào loại mạnh. Nhiều công trình nghiên cứu thử nghiệm ở các nước trên thế giới đã khẳng định từ lâu rằng hoạt chất Curcumin có tác dụng huỷ diệt tế bào ung thư vào loại mạnh. Tại Mỹ, Đài Loan, người ta đã tiến hành thử lâm sàng dùng Curcumin điều trị ung thư và kết luận: Curcumin có thể kìm hãm sự phát tác của tế bào ung thư da, dạ dày, ruột, vòm họng, dạ con, bàng quang.

Một nghiên cứu của Pháp vừa chứng minh rằng củ nghệ có tác dụng hủy các tế bào ung thư ở loài chuột và khi được kết hợp với liệu pháp miễn dịch nó sẽ tăng 82,8% thời gian sống còn của loài chuột bị khối u ác tính.

Tiến sĩ Johann Odot và các cộng sự ở trường Đại học Reims đã nghiên cứu những tác động của củ nghệ trong ống nghiệm đối với các tế bào ung thư của loài chuột (bị khối u ác tính) kháng lại thuốc doxorubicin chống ung thư. Họ cũng đã quan sát tác động của củ nghệ trong cơ thể sống ở loài chuột bị khối u ác tính bằng cách cho chúng tiêu thụ củ nghệ riêng hoặc kết hợp với một chất pha chế có chứa những protein hòa tan tế bào ung thư hoặc chất pha chế riêng.

Khi ở trong ống nghiệm trên các tế bào cấy, nghệ có tác dụng diệt các tế bào ung thư. Ở loài chuột bệnh, củ nghệ được tiêu thụ riêng hoặc chất pha chế riêng không có tác động rõ rệt đối với sự phát triển của khối u và cũng không làm tăng thời gian sống còn của loài chuột được bao nhiêu. Ngược lại việc kết hợp của hai liệu pháp đã mang lại những kết quả khả quan: khối u bị ức chế rõ rệt và thời gian sống còn của loài chuột đã tăng 82,8%.

Theo các nhà khoa học, những nghiên cứu về tác động hủy tế bào ung thư và khối u của củ nghệ sẽ giúp họ tìm ra những phương pháp hiệu quả để điều trị khối u ác tính và nhiều căn bệnh ung thư khác.
 (Theo Journal Santé)

5.  Khi gặp rắc rối với tiêu hóa: Nghiên cứu cho thấy, nghệ có thể kích thích tiêu hóa và giải phóng ra các emzim tiêu hóa, phá vỡ liên kết cacbonhydrat và các chất béo. Chính vì thế, trong trường hợp bị đau bụng, một cốc trà nghệ sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều.

6. Tinh chất nghệ Curcumin chữa viêm khớp hiệu quả an toàn

Sau những nghiên cứu chiết tách thành công Tinh nghệ Curcumin từ nghệ tại Việt Nam, một lần nữa, các hoạt chất có lợi trong củ nghệ vàng lại được quan tâm và ứng dụng trong việc sản xuất ra các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có lợi cho cộng đồng.

7. Mặt nạ bột nghệ cho da khô
Bạn nên đắp mặt nạ cho da khô trước khi bạn đi ngủ hoặc vào buổi tối. Thành phần: Bột nghệ nguyên chất, sữa tươi, dầu hạnh nhân, bột yến mạch, nước hoa hồng...

8. Nghệ giúp giảm cân, lưu thông và lọc máu.

 
-Sưu tầm-


Curcumin là gì?

Natural Remedies 20:30 Add Comment




 Công dụng của curcumin có trong củ nghệ

Curcumin là thành phần chính của curcuminoit – một chất trong củ nghệ thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) được sử dụng như một gia vị phổ biến ở Ấn Độ. Có 2 loại curcuminoit khác là desmethoxycurcumin và bis-desmethoxycurcumin. Các curcuminoit là các polyphenol và là chất tạo màu vàng cho củ nghệ. Curcumin có thể tồn tại ít nhất ở 2 dạng tautome là keto và enol. Cấu trúc dạng enol ổn định hơn về mặt năng lượng ở pha rắn và dạng dung dịch[1].

Curcumin có thể sử dụng để định lượng bo trong cái gọi là phương pháp curcumin. Nó phản ứng với axít boric tạo ra hợp chất màu đỏ, gọi là rosocyanin.
Curcumin có màu sáng đậm và được dùng để tạo màu cho thực phẩm như một chất phụ gia, được biết tới với tên gọi E100.

Cấu trúc hóa học

Curcumin kết hợp chặt chẽ vài nhóm chức. Các hệ thống vòng thơm, là các polyphenol được nối bởi 2 nhóm cacbonyl α,β-chưa bão hòa. Hai nhóm cacbonyl tạo thành diketon. Diketon tạo thành các enol ổn định hay dễ dàng khử proton và tạo thành các enolat, trong khi cacbonyl α,β-chưa bão hòa là tác nhân nhận Michael tốt và có phản ứng cộng ái lực hạt nhân. Cấu trúc của curcumin được xác định lần đầu tiên vào năm 1910 (Kazimierz Kostanecki, J. Miłobędzka and Wiktor Lampe).

Sử dụng trong y học

Củ nghệ bắt đầu được sử dụng trong y học Ayurveda tại Ấn Độ từ khoảng năm 1900 TCN để chữa trị một loạt các loại bệnh tật[2]. Nghiên cứu của các nhà khoa học vào cuối thế kỷ 20 đã xác định curcumin đóng vai trò quan trọng trong các hoạt tính sinh học của củ nghệ[2]. Dựa trên những nghiên cứu trong ống nghiệm (in vitro) và trên động vật, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết khả năng chữa bệnh hoặc ngăn ngừa bệnh của curcumin. Hiện tại, các tác động này chưa được xác nhận trên người. Tuy nhiên, cho tới năm 2008, rất nhiều thử nghiệm lâm sàng ở người đang được thử nghiệm để nghiên cứu về tác dụng của curcumin trong việc điều trị các bệnh như: viêm tủy, ung thư tụy, hội chứng loạn sản tủy, ung thư ruột kết, bệnh vẩy nến, bệnh Alzheimer[3].

Theo nghiên cứu cũng cho thấy curcumin có tính chất chống ung thư[4][5], chống ôxi hóa, chống viêm khớp, chống thoái hóa, chống thiếu máu cục bộ[6] và kháng viêm[7]. Khả năng kháng viêm có thể là do sự ngăn chặn tổng hợp sinh học của eicosanoit[8]

Curcumin làm vô hiệu hóa tế bào ung thư và ngăn chặn hình thành các tế bào ung thư mới. Curcumin giúp cơ thể phòng ngừa và chống ung thư. Curcumin là một chất có triển vọng lớn trong điều trị viêm gan B, C và nhiễm HIV.

Rất nhiều bằng chứng cho thấy curcumin phát triển chức năng tinh thần, một điều tra trên 1010 người châu Á ăn bột cari vàng ở độ tuổi 60-93 cho thấy những người ăn ít nhất 1 lần trong 6 tháng cho kết quả MMSE cao hơn so với những người không ăn. Theo quan điểm của các nhà khoa học, và một con số rất lớn các nghiên cứu cho thấy curcumin có tác dụng tốt cho não, các notron, giảm stress, trầm cảm, trạng thái lo âu.

Tác dụng chống ung thư

Khả năng chống ung thư do Curcumin làm vô hiệu hóa tế bào ung thư và ngăn chặn hình thành các tế bào ung thư mới mà không làm ảnh hưởng đến các tế bào lành tính bên cạnh. Curcumin can thiệp vào hoạt động sao chép của NF-κB là liên kết các bệnh viêm như ung thư. Một nghiên cứu về tác dụng của Curcumin đối với ung thư năm 2009 cho thấy Curcumin điều chỉnh sự phát triển của các tế bào u, bướu thông qua quá trình phân chia thường xuyên của tế báo
0,2% curcumin thêm vào khẩu phần ăn của chuột trước khi thêm chất gây ung thư sẽ làm giảm rõ rệt chất gây ung thư này ở kết tràng.
Sinh khả dụng của curcumin

Nghiên cứu của Shoba G., Joy D., Joseph T. và các cộng sự tại khoa Dược, đại học Y St. John, Bangalore, Ấn Độ đã cho thấy, hoạt chất piperine chiết xuất từ hạt tiêu đen có tác dụng tăng hấp thu và giảm đào thải của Curcumin trong máu lên rõ rệt. Một nghiên cứu của nhóm này được đăng tải trên tạp chí Pubmed của Thư viện y khoa quốc gia và Viện Sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ tháng 5 năm 1998 đã chứng minh được sinh khả dụng của curcumin trên cơ thể người khi được kết hợp với piperine từ hạt tiêu theo tỷ lệ 1% đã tăng lên tới 2000% so với không dùng piperine. [9]

Tác dụng này của piperine lên Curcumin đã được sử dụng để tạo ra dạng Super Curcumin – 1% khối lượng piperine trong Curcumin, với mức độ hấp thụ vượt trội của Curcumin khi đưa vào cơ thể.

Một vài tính chất có lợi của curmin như có khả năng ngăn ngừa ung thư kết tràng có thể không cần sự hấp thụ của cơ thể. Hòa tan Curcumin trong nước nóng hoặc dầu ấm sẽ có khả năng làm giảm độ sinh khả dụng của curcumin. Tuy vậy, nấu ăn có sử dụng curcumin và dầu, mỡ có thể làm tăng sự hấp thụ của curcumin.

Rủi ro và tác dụng phụ

Theo Kawanishi et al. (2005), curcumin cũng giống như các chất chống oxy hóa khác, là con dao hai lưỡi. Các nghiên cứu lâm sàng trên người với 2-12g curcumin cho thấy các tác dụng phụ như buồn nôn, tiêu chảy, rối loạn chuyển hóa sắt và chặn protein hepcidin, có khả năng gây ra thiếu sắt ở các bệnh nhân mẫn cảm. 

 Cây nghệ ở Nghệ An - Khu vực được biết đến là nơi củ nghệ có hàm lượng curcumin cao

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Kolev, Tsonko M.; và ctv. (2005). “DFT and Experimental Studies of the Structure and Vibrational Spectra of Curcumin”. International Journal of Quantum Chemistry (Wiley Periodicals) 102 (6): 1069–1079. doi:10.1002/qua.20469.
  2. ^ a ă Aggarwal B. B., Sundaram C., Malani N., Ichikawa H. (2007). “Curcumin: the Indian solid gold”. Adv. Exp. Med. Biol. 595: 1–75. doi:10.1007/978-0-387-46401-5_1. PMID 17569205.
  3. ^ Hatcher H., Planalp R., Cho J., Torti F. M., Torti S. V. (tháng 6 năm 2008). “Curcumin: from ancient medicine to current clinical trials”. Cell. Mol. Life Sci. 65 (11): 1631–52. doi:10.1007/s00018-008-7452-4. PMID 18324353.
  4. ^ Aggarwal, B. B.; Shishodia S. (tháng 5 năm 2006). “Molecular targets of dietary agents for prevention and therapy of cancer”. Biochemical Pharmacology (Elsevier) 71 (10): 1397–1421. doi:10.1016/j.bcp.2006.02.009.
  5. ^ Choi, Hyunsung; và ctv. (tháng 7 năm 2006). “Curcumin Inhibits Hypoxia-Inducible Factor-1 by Degrading Aryl Hydrocarbon Receptor Nuclear Translocator: A Mechanism of Tumor Growth Inhibition”. Molecular Pharmacology (American Society for Pharmacology and Experimental Therapeutics) 70: 1664–1671. doi:10.1124/mol.106.025817. PMID 16880289.
  6. ^ Shukla P. K., Khanna V. K., Ali M. M., Khan M. Y., Srimal R. C., Anti-ischemic effect of curcumin in rat brain, Neurochem Res. 6/2008; 33(6):1036-43. Epub 18-1-2008, PMID 18204970.
  7. ^ Stix, Gary (tháng 2 năm 2007). “Spice Healer”. Scientific American.
  8. ^ Srivastava, K. C.; Bordia A.; Verma S. K. (tháng 4 năm 1995). “Curcumin, a major component of the food spice turmeric (Curcuma longa), inhibits aggregation and alters eicosanoid metabolism in human blood platelets”. Prostaglandins Leukot Essent Fatty Acids 52 (4): 223–227. doi:10.1016/0952-3278(95)90040-3. PMID 7784468.
  9. ^ (Pubmed.org - Influence of piperine on the pharmacokinetics of curcumin in animals and human volunteers – 1998 May;64(4):353-6. - http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9619120)


 Nguồn: Wiki

Uống nhiều sữa tốt cho xương: Lời dối trá xuyên lục địa

Natural Remedies 08:51 Add Comment
Sữa không tốt cho xương


Tác giả: Hồng Lưu Nguồn: Đại Kỷ Nguyên VN

“Uống sữa tốt cho xương, uống sữa giúp phòng ngừa gãy xương…” là các thông điệp mà các giới chức của bộ ngành y tế sức khỏe, các chuyên gia dinh dưỡng, và đặc biệt là các nhà sản xuất và kinh doanh sữa vẫn đang ngày đêm tiếp tục quảng bá tại nhiều nước. Điều này đã trở thành hiển nhiên đúng với nhiều triệu người trên trái đất. Nhưng các nghiên cứu mới đây cho thấy, đó có lẽ chỉ là chiêu thuật để đẩy mạnh tiêu thụ sữa trong dân chúng.

Thực ra thì tiếng to tiếng nhỏ, nghi ngờ những khả năng phòng chống loãng xương, gãy xương… của sữa đã có từ lâu nhưng chưa có được các nghiên cứu nào đủ trọng lượng để khẳng định. Trong khi đó giới công nghiệp thì vừa nhiều tiền, giỏi ăn nói và quan hệ công chúng, lại “lobby” chính trị tốt nên luôn chiếm ưu thế trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt lại càng áp đảo trước các nhà khoa học có thói quen “rụt rè” trong các kết luận của mình.

Sau khi tổng hợp hàng loạt nghiên cứu khác nhau, phỏng vấn những người trong ngành, kết quả các điều tra thì nhà báo khoa học chuyên nghiên cứu về sữa và công nghiệp sữa, ông Thierry Soucar đã cung cấp rất nhiều thông tin và phân tích trong cuốn sách nổi tiếng của mình, “Lait, mensonges et propagand” (tạm dịch: Sữa, lời dối trá và tuyên truyền). Ông cho rằng, những “diễn văn” của các nhà sản xuất và kinh doanh sữa khuyến cáo nên nạp từ 3 đến 4 phần sữa mỗi ngày, ví dụ: 1 ly sữa, 1 cái yaourt, 1 miếng phomai, 1 chén ngũ cốc trộn sữa) để tốt cho xương…chỉ đơn thuần là lời tuyên truyền. Nếu dùng quá nhiều sẽ tăng khả năng bị ung thư tiền liệt tuyến ở nam, ung thư buồng trứng ở nữ, và bệnh Parkinson ở cả hai giới.

Cuộc tranh luận tẩy chay thông điệp này lại càng nóng lên sau khi các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard công bố kết quả thu được khi cố gắng tìm hiểu mối liên hệ giữa sự tiêu thụ sữa của những người vị thành niên và mối nguy gãy xương sau đó trong đời. Đây là một nghiên cứu quy mô rất lớn, thu thập số liệu của 22 năm và có sự tham gia của trên 96.000 người cả nam lẫn nữ (1).

Kết quả cho thấy, thêm một ly sữa hàng ngày ở tuổi vị thành niên là gắn với một mối nguy cơ bị gãy xương háng cao hơn ở đàn ông. Đối với phụ nữ thì uống sữa không liên quan đến việc tăng hay giảm mối nguy này.

Kết luận của các nhà nghiên cứu là: tiêu thụ sữa ở tuổi vị thành niên không giúp giảm nguy cơ gãy xương mà thậm chí còn làm tăng nguy cơ gãy xương ở đàn ông.

Thêm vào đó, theo một nghiên cứu công bố vào năm 2012 trên American Journal of Epidemiology, nếu người nào dùng nhiều sữa và lúc tuổi vị thành niên, thì sẽ làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt (2).

Thực thế nhiều khảo sát ở những nước phát triển, tiêu thụ nhiều các sản phẩm sữa cho thấy tỉ lệ các vấn đề xương khớp không sai biệt gì đáng kể so với những nước kém phát triển, nơi mặt hàng sữa vẫn còn thuộc loại xa xỉ. Mọi người thường hay liên hệ đến canxi khi nói đến sức khỏe của xương, nhưng thực ra các yếu tố dinh dưỡng khác cũng vô cùng quan trọng, đó là phốt pho, kali, các chất khoáng khác, đạm và vitamin. Cần đa dạng hóa thực phẩm để không bị thiếu hoặc dư thừa một chất nào đó.

Ở Việt Nam có lẽ cũng rất khó để thực hiện được những nghiên cứu bài bản và khách quan như trên. Tuy nhiên chúng ta cũng không có quá nhiều các sản phẩm sữa để dùng đến 3 – 4 phần mỗi ngày nhất là khi giá sữa luôn treo ở “trên cây”. Khi uống sữa, nếu bạn cảm thấy khó tiêu, đầy bụng, tiêu chảy, ợ hơi…thì cũng đừng nên ép. Hãy coi sữa cũng giống như các thực phẩm thông thường khác thì mọi chuyện đơn giản hơn nhiều. 

Việc các doanh nghiệp luôn tìm cách rót vào tai người tiêu dùng những công dụng tuyệt vời đã được đánh bóng (đôi khi là không có thực) và thổi phồng lên là chuyện thường tình. Do vậy tự mỗi người phải tìm ra được chế độ dinh dưỡng phù hợp với cơ thể và túi tiền của mình.

Tài liệu tham khảo:
  1. Feskanich D, Bischoff-Ferrari HA, Frazier AL, Willett WC. Milk Consumption During Teenage Years and Risk of Hip Fractures in Older Adults. JAMA Pediatr.2013 Nov 18.

  2. Torfadottir JE. Milk intake in early life and risk of advanced prostate cancer. Am J Epidemiol. 2012 Jan 15;175(2):144-53. Epub 2011 Dec 20.
Nhận xét: Những "lời khuyên" chỉ có lợi cho túi tiền của các tập đoàn doanh nghiệp khổng lồ kiểu như trên đây xuất hiện đầy rẫy trên các phương tiện truyền thông và từ các cơ quan chính phủ nhận tiền của họ. Suy cho cùng, chỉ có chính bạn là người duy nhất chịu trách nhiệm cho sức khỏe của bản thân. Do vậy, hãy thận trọng trước những "lời khuyên" như vậy. Mời các bạn xem thêm các bài viết dưới đây về một số "lời khuyên" tưởng chừng hiển nhiên khác.

LOÃNG XƯƠNG: PHẦN III: PHÒNG NGỪA LOÃNG XƯƠNG

Natural Remedies 04:11 Add Comment
Bài viết của BS.ThS Hàn Tiểu Sảo

Bảo vệ sức khỏe xương của bạn dễ dàng hơn bạn nghĩ

Chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và lối sống có thể ảnh hưởng đến khối lượng xương. Để duy trì sức mạnh và mật độ xương, cơ thể đòi hỏi được cung cấp đủ calcium, khoáng chất, vitamin D, lượng thích hợp của một số hormone:

• Hormone tăng trưởng GH (growth hormon) do tuyến yên tiết ra: không có tác dụng trực tiếp lên hủy và tạo xương, nhưng nó có thể kích thích sự tổng hợp IGF1 (insulin like growth factor 1) của tế bào xương.

• Calcitonin do các tế bào cận nang giáp tiết ra làm giảm hoạt động của các tế bào hủy xương, ức chế quá trình hủy xương.

• Hormone tuyến cận giáp: dưới tác dụng của PTH thì bao giờ quá trình hủy xương cũng diễn ra mạnh hơn tạo xương.

• Estrogen được tạo ra bởi buồng trứng: có tác dụng ức chế hủy xương gián tiếp thông qua các hormon khác hoặc thông qua tác động của các yếu tố tăng trưởng tại chỗ.

• Testosterone được bài tiết chủ yếu từ tinh hoàn một lượng nhỏ từ tuyến thượng thận. Giảm testosteron hay sự thiếu hụt estradiol cũng góp phần vào sự loãng xương ở nam giới.

Với hoạt động và liều lượng tối ưu của các hormon, vitamin, và khoáng chất, bè xương phát triển thành một cấu trúc mạng phức tạp tuy trọng lượng nhẹ nhưng mạnh mẽ.

Đo loãng xương

Chỉ định đo mật độ xương (Bone Mineral Density test: BMD test) hàng năm cho phụ nữ ≥ 65 tuổi , hoặc nữ kèm các vấn đề sau:

1. Quá trọng.
2. Hút thuốc lá.
3. Giảm chiều cao, lưng khom, còng.
4. Đau lưng đột ngột không nguyên nhân rõ ràng.
5. > 45 tuổi và gãy 1 xương.
6. Bệnh mạn tính.
7. Trước và sau khi điều trị K vú.

Nếu như không có chỉ định điều trị sau khi đo mật độ xương thì chỉ cần đo lặp lại sau 2-3 năm, thậm chí 4 năm. Để phát hiện thay đổi mật độ xương 2-3% cần phải 1-1,5 năm nếu như sai số đó là 1%, và 5 năm nếu sai số của máy là 5%. Khi đo lại, cần đo ở cùng một máy trên cùng một vị trí.

Trong trường hợp điều trị, có thể đo lặp lại ở cột sống thắt lưng vì tác dụng của thuốc ở vị trí này khá rõ rệt.

Trường hợp không có điều kiện đo mật độ xương: Có thể chẩn đoán xác định loãng xương khi đã có biến chứng gãy xương dựa vào triệu chứng lâm sàng và Xquang: Đau xương, đau lưng, gẫy xương sau chấn thương nhẹ, tuổi cao… 

Vài bước đơn giản để ngăn ngừa hoặc làm chậm mất xương

1/ Bao gồm nhiều calcium trong chế độ ăn uống. Đối với người lớn, tuổi từ 19-50 và nam giới độ tuổi từ 51-70, nhu cầu calcium là 1g/ngày. Các khuyến nghị tăng tới 1.2g một ngày cho phụ nữ sau 50 tuổi và nam giới sau tuổi 70. Nguồn cung cấp calcium bao gồm cua đồng, ốc nhồi, vừng, tôm khô, pho mát và các sản phẩm từ sữa, hạnh nhân, bông cải xanh, cải xoăn, cá hồi đóng hộp với xương, cá mòi và các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ.

1/ Cơ thể cần vitamin D để hấp thụ calcium. Ở tuối 19-70, nhu cầu Vitamin D là 600 IU/ngày. Kiến nghị tăng đến 800 IU/ngày cho người ≥ 71 tuổi. Nguồn cung cấp vitamin D bao gồm dầu cá, như cá ngừ và cá mòi, lòng đỏ trứng và sữa tăng cường. Ánh sáng mặt trời cũng góp phần vào việc sản xuất vitamin D của cơ thể.

3/ Hoạt động thể chất: Bài tập chịu tải trọng, chẳng hạn như đi bộ, chạy bộ, tennis và leo cầu thang, có thể giúp bạn xây dựng xương và chậm mất xương. Tránh lạm dụng thuốc, không hút thuốc lá và tránh uống nhiều hơn hai ly rượu mỗi ngày.
Mè chữa loảng xương
 Mè chứa nhiều calcium